MẤY GIỜ RỒI NHỈ!

Điều tra ý kiến

Sau nhiều lần nhắc nhở, em học sinh ấy vẫn vi phạm theo các bạn chúng ta phải:
Mời PHHS và tiếp tục nhắc nhở.
Có 1 biện pháp phạt cứng rắn hơn (nhạy cảm).
Sắp xếp vị trí em ở 1xó lớp để không làm ảnh hưởng đến lớp.
Gửi lên cho Lảnh đạo Nhà Trường xử lý.
Không biết phải làm gì!!!???

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Trần Anh Kiệt)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    TẤT CẢ LÀ ÂM NHẠC

    Ảnh ngẫu nhiên

    270.jpg Happy_new_year.swf Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Xuan_20151.swf ChucMungNamMoi.jpg Nhmoi.swf Clock_Hopmat2014.swf VIOLET_.mp3 VIOLET_360p.flv AK_QUYET_DAU.flv 112.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf Chuc_xuan.swf GIANGSINH.swf 3QuaChuong.gif SN_Anh_Kiet_2013.swf Mmmm.swf Untitled17.swf SN_AK.jpg

    DI TÍCH LỊCH SỬ QUÊ HƯƠNG TÔI!

    Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến - Cấp quốc gia. MỜI CLICK VÀO HÌNH DƯỚI ĐỂ XEM CHI TIẾT Nhà trăm cột - Cấp quốc gia. MỜI CLICK VÀO HÌNH DƯỚI ĐỂ XEM CHI TIẾT Chùa Phước Lâm - Cấp quốc gia. MỜI CLICK VÀO HÌNH DƯỚI ĐỂ XEM CHI TIẾT Đồn Rạch Cát - Cấp Tỉnh. MỜI CLICK VÀO HÌNH DƯỚI ĐỂ XEM CHI TIẾT

    MỤC ĐIỂM BÁO

    AK CHÀO QUÝ THẦY CÔ CÙNG CÁC EM HỌC SINH THÂN THƯƠNG - XIN GỬI LỜI CHÚC VUI, KHỎE, THÀNH ĐẠT VÀ NHẤT LÀ HÃY "QUẬY LÊN" CHO MỌI NGƯỜI NHỚ NHÉ!

    Lời mời sinh nhật Anh Kiệt 09-12-2014

    CÙNG TÂM TÌNH VỚI AK CÁC BẠN NHÉ !
    Gốc > Vài nét quê tôi: Chợ Đào - Cần Đước - Long An >

    Bài 13: Ghe Cần Đước

     

    Lớp trẻ Cần đước bây giờ ít người biết rằng ở tại quê hương mình có nghề đóng ghe rất nổi tiếng. Các bài viết sau đây sẽ giúp hiểu biết thêm về ghe xuồng Nam bộ nói chung và ghe Cần Đước - nói riêng.

     


    Nằm bên cạnh thị trường lớn Sài Gòn, Long An lại là cửa ngõ đi về của vùng ĐBSCL trù phú, nên các nghề thủ công ở đây có nhiều lợi thế để  phát triển nhanh chóng. Những tài liệu thư tịch cổ thế kỷ XIII và đầu thế kỷ XIX đã ghi khá rõ những sản vật nổi tiếng chế biến từ nguyên liệu sẵn có của địa phương như buồm ghe, chiếu lác, xuồng, ghe, rượu đế khu vực Gò Đen, v.v.

    Tuy chưa phát triển thành những làng nghề, hay thành những phường hội như ở miền Bắc, nhưng đã xuất hiện một số khu vực sản xuất tập trung, mà những sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của địa phương mà còn cung cấp cho thị trường Sài Gòn và một tỉnh lân cận.

    Trước hết phải kể đến nghề đóng ghe xuồng. Với nguồn nguyên liệu gỗ sao, gỗ sến và dầu rái từ rừng Quang Hoá (Tây Ninh) đưa về, những trại đóng ghe ở vùng Thủ Thừa, Cần Đước đã sản xuất nhiều loại xuồng ghe được tín nhiệm rộng rãi trong miền.

    Sách Gia Định thành thông chí cho biết vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX các chợ dọc tuyến sông Thủ Thừa- Bến Lức có bán nhiều “ ghe nhỏ, than củi, bao lác, buồm ghe”. Ghe nhỏ ở đây là loại xuồng dùng để đi lạitrên các kênh rạch hay vùng Đồng Tháp Mười. Sách trên còn cho biết Đỗ Thành Nhân, viên tướng của Nguyễn Ánh cũng đã xây dựng xưởng đóng thuyền đi sông và đi biển trên bờ sông Vàm Cỏ. Vào cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX đất Long An lại nổi tiếng với loại ghe Cần Đước. Các cô gái ở miệt vườn miền Trung và miền Tây Nam bộ thường hay trêu ghẹo những chàng trai Gia Định (tiếng gọi chung của Sài Gòn- Gia Định- Chợ Lớn cũ) mỗi lần gặp ghe Cần Đước xuống, gợi lên đặc trưng nổi tiếng của “ghe mũi đỏ” của Cần Đước.

    Ghe ai đỏ mủi, trảng lườn
    Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?


    Phát triển lâu đời, nghề đóng ghe của Long An đã sản sinh nhiều lớp thợ giỏi, có nhiều kinh nghiệm trong việc thiết kế ghe ngày càng hoàn hảo, chọn loại gỗ, xử lý kỹ thuật, sắp đặt các chi tiết sao cho hợp lý để cho ghe có thể chạy nhanh, rẻ nước và nhảy sóng tốt, kết hợp tốt giữa tính kỹ thuật và mỹ thuật.

    Nghề đóng xuồng ghe là nghề truyền thống của Long An, đặc biệt ở các huyện Cần Đước, Cần Giuộc và Đức huệ, đã xuất hiện ở địa phương hàng trăm năm. Hiện trạng năm 2007, toàn tỉnh có 132 cơ sở , thu hút 439 lao động, bình quân mỗi cơ sở có 3,3 lao động, giá trị sản xuất 64.158 triệu đồng. Phân bố ở một huyện như sau: huyện Cần Đước có 80 cơ sở (194 lao động); huyện Cần Giuộc có 21 cơ sở (160 lao động); huyện Đức Huệ có 24 cơ sở (41 lao động); v.v.

    Nghề đóng xuồng ghe xuất hiện từ năm 1946 ở các xã Tân Chánh, Long Hựu Tây huyện Cần Đước. Xuồng ghe đóng ở Cần Đước nổi tiếng khắp các vùng sông nước bởi sự cân đối, bền, đẹp và giá cả hợp lý. Trong mấy năm gần đây, do sự cạnh tranh của xà lan và xuồng ghe bằng vật liệu mới nên các cơ sở đóng xuồng ghe đang từng bước chuyển sang đóng tàu kéo xà lan. Đây là một bước tiến mới rất quan trọng và phát huy tính truyền thống của nghề.

    Trước đây, nghề đóng ghe tải ở Long An phát triểnt khá mạnh; tuy nhiên, trong mấy năm gần đây đang có xu thế mai một do giá gỗ cao và ngày càng khan hiếm, vận tải bằng xà lan ngày càng tỏ ra có ưu thế hơn bởi sà lan chở được nhiều và giá sắt thép để đóng sà lan rẻ hơn, công nhân có tay nghề cao ngày càng giảm, v.v. Tuy nhiên, do nhu cầu vận chuyển hàng hóa từ những vùng sâu vùng xa, số lượng nhỏ nên nhu cầu các loại xuồng ghe có công suất nhỏ không giảm nên phần lớn các cơ sở có quy mô nhỏ chuyển sang đóng ghe có công suất nhỏ.

    Theo tiêu chí của thông tư 116/2006/TTBNN nghề đóng xuồng ghe ở ấp Đông Nhất (xã Tân Chánh, huyện Cần Đước) tuy chưa đạt tiêu chí làng nghề nhưng thực sự đã là một nghề truyền thống; tương tự như vậy đối với cụm làng nghề đóng xuồng ghe ở xã Long Hựu Tây (huyện Cần Đước) bao gồm các ấp Long Hưng, Mỹ Điền và ấp Tây.

    Tình hình hoạt động của các làng nghề hiện nay gặp không ít khó khăn, nghề đóng xuồng nghe cũng vậy, nhất là vấn đề vốn đầu tư để mua nguyên liệu cũng như tồn trữ sản phẩm. Hiện nay, các cơ sở sản xuất xuồng ghe dưới hình thức tự sản xuất tự tiêu thụ. Chính vì thế làng nghề phải được thành lập đi vào hoạt động có tổ chức để thuận lợi trong việc quản lý điều hành sản xuất, lập dự án vay vốn phát triển sản xuất, được trang bị thêm phương tiện, kỹ thuật để tạo điều kiện phát triển nghề đóng xuồng ghe, vì hiện nay tuyến giao thông đường bộ và đường thuỷ đã được nâng cấp.

    Chính vì thế làng nghề phải được thành lập đi vào hoạt động có tổ chức để thuận lợi trong việc quản lý điều hành sản xuất, lập dự án vay vốn phát triển sản xuất, được trang bị thêm phương tiện, kỹ thuật để tạo điều kiện phát triển nghề đóng xuồng ghe, vì hiện nay tuyến giao thông đường bộ và đường thuỷ đã được nâng cấp.



     

    Ghe xuồng ở Nam Bộ có vị trí rất quan trọng trong việc giao thông đường thuỷ, ở một địa bàn mà mạng lưới sông ngòi, kênh rach chằng chịt. Việc sử dụng ghe xuồng làm phương tiện đi lại, vận chuyển đã trở thành nét độc đáo trong đời sống của cư dân vùng này. Có thể nói, cư dân miệt sông nước ra đến ngõ là gần như phải đi xuồng. Ngay từ thưở đi khai hoang của cha ông ta, việc đi lại bằng đường thuỷ vẫn tiện lợi và an toàn nhất. Sách Gia Định thành thông chí mô tả:”Ở Gia Định chỗ nào cũng có ghe thuyền, hoặc dùng thuyền làm nhà ở hoặc đi chợ, hay để đi thăm người thân thích, hoặc chở gạo củi đi buôn bán, rất tiện lợi, mà ghe thuyền chật sông ngày đêm qua lại, sỏng xuồng liên tiếp” [1] 

    1.Đặc điểm phân loại 

    Ghe xuồng ở Nam Bộ rất đa dạng, phong phú với nhiều kiểu loại, tên gọi khác nhau. Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, chức năng sử dụng và phương thức hoạt động ta có thể tạm phân chia thành những loại khác nhau. 

    Huỳnh Tịnh Của định nghĩa về xuồng như sau: "Ghe nhỏ, ghe làm chơn, thường dòng theo ghe lớn” [2] . Về xuồng, ta thấy có các loại phổ biến như xuồng ba lá, xuồng năm lá, tam bản, xuồng vỏ gòn, xuồng độc mộc, xuồng chèo, xuồng máy… 

    Xuồng ba lá có chiều dài trung bình 4m, rộng 1m, sức chở từ 4-6 người. Xuồng làm bằng ba tấm ván gỗ dài ghép lại, các đường nối được trét bằng nhựa chai, mũi và lái đều nhọn. Dùng sào nạng và bơi chèo để đi lại. Riêng Cần Thơ có xuồng 5 lá. 

    Xuồng tam bản giống như ghe câu, nhưng lớn hơn, có 4 bơi chèo, dùng để chuyên chở nhẹ. Có loại thon dài, lại thêm mui ống, dáng đẹp. Số lượng tấm ván be không chỉ có 3 mà có thể là 5, 7, hoặc 9 tấm. Các điền chủ hạng nhỏ và vừa thường sử dụng để đi lại trên sông rạch. Ở Vĩnh Long, xuồng tam bản còn dùng để đi câu tôm, câu rổi hoặc dùng làm xuồng cào tôm cá. Tam bản xuất xứ từ tiếng Hoa “xam pản”, người Pháp phiên âm thành “sampan”. 

    Ghe tam bản, xuồng bơi, xuồng chèo ở Cần Thơ đều là hai chèo, ba chèo, bốn chèo. Không phải một một chèo lái, một chèo mũi như ở các vùng khác. 

    Xuồng vở gòn (giống vỏ trái gòn) kích thước nhỏ, kết cấu đơn giản (giàn đà, cong và ván be), kiểu dáng gọn nhẹ, chủ yếu để đi lại, chuyên chở, trao đổi, buôn bán. 

    Xuồng độc mộc (ghe lườn) do người Khơme làm bằng cách chẻ dọc thân cây thốt nốt, khoét rỗng ruột hoặc mua xuồng độc mộc thân gỗ sao, sến ở Campu chia và Lào. 

    Xuồng câu tôm: giống kiểu kiểu ghe độc mộc của người Khơme dùng giăng câu thả lưới ở ven sông cạn rạch nhỏ. 

    Xuồng bơi (2 mái chèo) lớn hơn xuồng tam bản. 

    Xuồng máy gắn máy nổ và chân vịt như xuồng máy đuôi tôm là loại phương tiện rất “cơ động”, phổ biến ở vùng sông nước này, nhất là trong giới thương hồ. 

    Về ghe dùng để vận chuyển hàng hóa thường là những chiếc ghe có kích thước lớn, sức chở nặng, đi được đường dài. 

    Ghe bầu là loại ghe lớn nhất, mũi và lái nhọn, bụng phình to, có tải trọng tương đối lớn, chạy buồm (từ 1 đến 3 buồm), lướt sóng tốt và đi nhanh, có nhiều chèo để đi sông và đi biển dài ngày.thường dùng đi đường biển. Loại ghe bầu lớn thường gọi là ghe trường đà.Ghe bầu (Prau) bắt nguồn từ tiếng Mã Lai, do người Việt trong quá trình Nam tiến tiếp thu được của người Chăm.Trước năm 1945, hàng năm các lái buôn lớn từ miền Trung chở cá, mắm cá mòi, chủ yếu là nước mắm cá cơm của vùng Phan Thiết vào bán trong Nam, rồi mua gạo thóc chở ra bằng loại ghe này. 

    Ghe cửa: nhỏ, mũi nhọn, nhảy sóng tốt, chạy buồm vững vàng; có thể ra vào các cửa sông dễ dàng, hay chở hàng đi men theo bờ biển. 

    Ghe lồng (hay ghe bản lồng): loại ghe lớn, đầu mũi dài, có mui che mưa nắng, lòng ghe được ngăn thành từng khoang nhỏ để chứa các loại hàng hóa khác nhau. Loại ghe này dùng vận chuyển hàng hóa đi dọc bờ biển. 

    Ghe hàng bo là loại ghe lồng nhỏ, đi đường ngắn trong nội địa 

    Ghe giàn : có kích thước khá lớn, hai bên hông trổ cánh cao để chở được nhiều hàng hóa 

    Ghe be không mui hoặc có mui nhỏ chệch về phần lái khoảng 1/4 chiều dài của ghe, có thêm hai ghe bên sườn để tăng thêm sức chở. 

    Ghe chài: to và chở được nhiều nhất, có mui rất kiên cố, gồm nhiều mảnh gỗ ghép lại, có hai tầng. Ghe được chia làm hai phần, phần đầu chứa hàng hóa, phần sau là chỗ nghỉ cho người đi ghe. Một mui rời phía sau phòng lái dùng làm nơi tắm rửa, nấu cơm. Ghe có sức chở từ 150-200 tấn, loại ghe chài Nam Vang chở được đến 300 tấn. Ghe chài thường có cả chục người chèo với kiểu chèo “neo” ngược chứ không như kiểu chèo ghe bình thường. Về sau, người ta dùng tàu kéo ghe chài. Ghe dùng cho người đi buôn bán xa, dài ngày và sống trên sông nước. Thường dùng chở lúa gạo, than củi. 

    “Chài” xuất xứ từ tiếng “Pok chài” của người Triều Châu, Pok: nhiều, chài: tải, ghe chài là loại ghe có sức tải lớn. 

    Theo Vương Hồng Sển, ghe chài gọi đầy đủ là ghe bốc chài, gốc từ tiếng Khơme “tuk pokchay”, tuk: ghe, thuyền (Khơme);pokchay: chở nhiều (Triều Châu) [3] 

    Ghe cà vom: nhỏ, dài, có mui nhỏ nhưng khác ghe lườn và ghe ngo. 

    Ghe cá, hay còn gọi là ghe rỗi ,chuyên chở sá đồng từ miền Tây về Sài Gòn. Đặc biệt mực nước trong ghe luôn cân bằng với mực nước sông bên ngoài để giữ cá luôn sống và ghe cũng luôn vững. “Anh đi ghe cá mũi son, để em đan đệm cho mòn mười ngón tay” 

    Ghe bè to và sâu, giống như chiếc xà lan, có mái che, tải trọng lớn, người chèo có thể đi lại trên mui, dùng chuyên chở hàng hóa trên sông. Loại ghe to, mau bán tận Campuchia. 

    Ghe lưới :giống như chiếc thuyền độc mộc, thân dài, thon, mũi nhọn. Đây là loại ghe của người Khơme. 

    Ghe cào tôm : đầu mũi lài và khá phẳng, có bánh lái gặp bên hông, dáng nhỏ. Loại ghe này thường dùng cào tôm vào ban đêm. 

    Ghe mỏ vạch : mũi vớt cao lên như cái vạch của thợ may. 

    Ghe cui : ngắn, mũi và lái tương đối bằng, không nhọn như các ghe khác. Dùng chở củi, lá lợp nhà. 

    Ghe ngo (tuk ngua): loại ghe nhiều màu sắc của dân tộc Khơme, thường dùng trong bơi đua trong các lễ hội. Ghe làm bằng cây sao, dài 10m trở lên. Ghe không mui, ở đầu mũi chạm hình rồng, rắn, phụng, lân hoặc voi, sư tử, ó biển. Mỗi chiếc có thể chở từ 20 đến 40 tay chèo, xếp thành hàng đôi, một người cầm lái và một người cầm mũi. 

    Ghe điệu : mũi lái chạm trổ, kèo mui thường sơn son thếp vàng, bên trong lót ván trơn bóng, có chỗ nấu nướng, đủ tiện nghi để hút á phiện cho giới nhà giàu. 

    Ghe hầu : sang hơn ghe điệu, dành cho cai tổng, tri phủ, tri huyện. Ban đêm ghe thắp sáng không phải vì mục đích soi đường, mà để báo hiệu cho biết là ghe của quan. Một đoạn trích của Huỳnh Minh cho ta thấy hình ảnh của chiếc ghe hầu ngày xưa: “Khác với những ghe thường, ghe hầu được đóng vẻ đẹp đẽ, sang trọng hơn: sơn son thếp vàng, đầu rồng đuôi phụng, trước mũi hai chèo, mui ghe lộng lẫy, bên trong trang trí rất đẹp như một phòng khách trên nhà, nào chiếu bông nẹp điều, gối dựa vải màu sặc sỡ, đồ lệ bộ, ống điếu bình, văn án thấpv.v…Ban đầu chỉ có loại quan chức mới đi loại ghe này, về sau các nhà giàu có, dư dả cũng đua nhau sắm ghe hầu, như kiểu đổi Citroen con cóc để sắm Dodge hay Mercédes đi cho oai” [4] 

    Ghe sai : còn gọi là ghe khoái, nhỏ, chèo nhẹ, dùng vào việc quan. 

    Ghe quyển : có mui che từ đầu đến cuối ghe, dùng để chở quân lính. 

    Ghe lệ hoặc ghe ô : dùng vận chuyển lính hay quân cụ. Những chiếc dành cho chỉ huy thường được chạm trổ toàn thân rất tinh xảo. Loại này thường được sơn đỏ nên cũng gọi là ghe son hay ghe vẹm. 

    Ghe trẹt (trẹt) : không mui, đáy bằng, hai đầu ghe đều bằng để chở trâu bò. 

    Ghe vợi : ghe nhỏ, cột theo sau những chiếc ghe lớn để chuyển hàng hóa vào bờ. 

    Vỏ lãi : mũi ghe bằng, dài khoảng 9m, thành ghe thấp, bề ngang hẹp. 

    Tắc ráng : thường dài hơn vỏ lãi, mũi nhọn, chạy rất nhanh (chiếc Speedo do Kiên Giang Composite chế tạo có thể chạy đến 60km/giờ). Chiếc ghe đặc biệt xuất hiện từ năm cuối 1959 ở địa danh mà cả xóm, ấp, chợ và con rạch đều mang tên Tắc Ráng (nay là khóm Vĩnh Viễn, phường Vĩnh Hiệp, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang). 

    Ngoài ra, ở mỗi địa phương cũng có những loại ghe phù hợp với điều kiện sông nước và nhu cầu sản xuất, đi lại trong vùng. Một số loại ghe có tiếng như: 

    Ghe câu Phú Quốc (Kiên Giang) có buồm, có 5 cặp chèo, dùng để đánh bắt thuỷ sản. 

    Ghe cửa Phú Quốc để chở thuỷ sản và mắm. 

    Ghe Cần Thơ: lớn, dài, tiện cho việc đi sông. 

    Ghe cửa Bà Rịa để chuyên chở thuỷ sản 

    Ghe lưới rùng Phước Hải (Long Đất, Bà Rịa- Vũng Tàu) dùng đánh bắt thuỷ sản. 

    Ghe Cửa Đại: dùng đánh bắt trên biển, chuyên chở hàng hóa đi biển hoặc trên các con sông lớn. Loại ghe có đặc trưng riêng, khá nổi tiếng, do những thợ thủ công Bình Đại (Bến Tre) đóng. Ngày xưa, vùng này có mối giao lưu mua bán với Mỹ Tho, Sài Gòn, Gò Công, Vũng Tàu, Bà Rịa, Phan Thiết. “Khác với ghe Cần Đước mũi ngắn, lườn rộng, ghe Vàm Láng (Gò Công) mũi nhọn mà cao, lườn dẹt, ghe Hòn (Phú Quốc) của miền tây mũi đứng, lườn rộng, thân dài, ghe của Bình Đại- thường được giới sông nước gọi là ghe số 14 mũi đen- cao vừa 

    phải, lườn rộng, thân vững, đi biển hoặc chuyên chở trên sông đều tốt, chịu nhảy sóng, mạnh sức chở. Ghe cửa Bình Đại bánh lái đẹp và dài, có hai buồm, có trục cuốn, buồm đánh bằng lá buôn đan( tức một loại lá cọ, người ta quen gọi là đệm buồm) “ [5] 

    Ghe Cần Đước (Long An) dùng đánh bắt cá(đóng đáy, chài cá), chuyên chở hàng hóa trên các tuyến sông. Loại ghe lớn, chạy nhanh, chở khoẻ, có dáng đẹp, nhưng chỉ sử dụng tiện lợ tròn sông rạch vì lườn tròn, nhảy sóng kém. Mũi và lái đều nhọn và nhô cao, chậu mũi vàchậu lái cong tròn, bánh lái to và cao, cần lái nằm ngang quá mũi ghe. Ghe Cần Đước mũi sơn màu đỏ tươi, lườn màu xanh, hai mắt tròn xoe, tròn đen và to, thường gọi là “đôi mắt đảo mèo” [6] 

    Ghe ai đỏ mũi trảng lườn 
    Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em? 


    Ngoài ra, tuỳ vào mục đích sử dụng mà ghe xuồng ở Nam Bộ có những tên gọi khác nhau, như dùng để giăng câu thì gọi là xuồng câu ; đánh bắt thì có ghe lưới, ghe đáy; đưa khách trên sông thì gọi ghe đò(đò ngang, đò dọc; đò chèo, đò đạp, đò máy) ; dùng buôn bán hàng hóa thì có ghe hàng… 

    2. Nghề đóng ghe 

    Từ cuối thế kỷ XVIII, ở đất Gia Định- Đồng Nai, ngành đóng và sửa chữa tàu thuyền đã ra đời, phục vụ cho nhu cầu vận chuyển đường thuỷ ngày càng lớn của vùng đất này.”Ở ngã 

    ba sông Nhà Bè thuộc huyện Phước Long, tục gọi phường Thương Đà, trước kia tàu thuyền của phương Bắc đến buôn bán, phàm thuyền bị nát, bị rò phải sửa chữa hoặc đóng thuyền mới, tất do chỗ này” [7]. “Luỹ cũ Trao Trảo ở huyện Long Thành năm Canh Tuất (1790) đầu đời trung hưng, đắp thành luỹ, đóng tàu thuyền” [8] 

    Ở Nam Bộ có nhiều “lò” đóng ghe nổi tiếng, thành ra những trường phái riêng, có thể kể như: ghe Bình Đại, ghe Cần Đước, ghe Bà Rịa, ghe Phú Quốc… 

    Trước Cách mạng tháng Tám- 1945, tại Bình Đại có các trại ghe Bắc Hải ở Thọ Phú và ghe Đông Hải ở Phước Thuận chuyên đóng những ghe cửa lớn vận chuyển hàng hóa đi buôn với các tỉnh cực Nam Trung Bộ, nổi tiếng một thời. Thợ thủ công ở Vũng Luông (Thọ Phú- Thới Thuận) và vàm Bà Khoai là những nơi có tay nghề cao. [9] 

    Tại Cần Đước đã hình thành nên hai trung tâm đóng ghe, một ở chợ Kinh và một ở vàm Cầu Nổi với những trại ghe tiếng tăm như Hiệp Phát, Hiệp Lợi, Trần Văn Chà (sau đổi là Tân Hưng) ở chợ Kinh; Năm Châu, Bảy Thạch…ở Phước Đông hay có thể kể thêm Hiệp Đồng, Hiệp Hoà ở Tân Tập (Cần Giuộc) [10] 

    Từ đầu thế kỷ XX, nghề đóng ghe xuồng ở Cần Thơ đã phát triển. Lúc đầu chỉ vài hộ, rồi dần dần trở thành làng nghề, mang tính chuyên nghiệp, cha truyền con nối. Nổi tiếng nhất là ở Ngã Bảy (Phụng Hiệp). Ở Vàm Xáng, Phong Điền, thị trấn Cái Răng (Châu Thành) cũng là những làng nghề đóng ghe xuồng danh tiếng. 

    Ghe đóng ở Cần Thơ nổi tiếng kiểu dáng thanh mảnh, mũi nhọn, nhảy sóng tốt. Phong Điền là nơi chuyên đóng ghe hầu với kỹ thuật chạm trổ rất khéo. 

    Ở thành phố Hồ Chí Minh có làng đóng ghe cầu Rạch Ong nằm hai bên bờ rạch Ong, gần ngã ba của con rạch này và kinh Tẻ, thuộc địa bàn phường Tân Hưng (quận 7) và phường 1 (quận 8). Làng nghề này hình thành khoảng năm 1962, do những người thợ từ Cần Đước, Cần Giuộc (Long An) mang đến. Trọng tải của loại ghe Cần Đước đóng tại đây có nhiều cỡ, khoảng từ 30-200 tấn. Gần đây, làng nghề chủ yếu đóng các loại tàu kéo, tàu ủi và xuồng thông với sức chở từ 500kg đến 3 tấn, và sửa chữa các loại ghe thuyền khác nhau. [11] 

    Ở An Giang, nghề đóng ghe xuồng ngày càng phát triển ở một số làng xã như: Mỹ Hiệp, Mỹ Luông, Chợ Thủ (Chợ Mới), Bình Mỹ, Bình Long (Châu Phú). Ghe xuồng có giá rẻ, dễ mua sắm, kiểu dáng luôn được cải tiến. 

    Tại Bà Rịa- Vũng Tàu, các trại ghe tập trung chủ yếu ở Bình Châu, Phước Bửu, Long Hải, Phước Lễ, Phước Tỉnh, Phước Hải, Vũng Tàu… 


    (Nguồn: Phatgiaobaclieu.com - Nguyễn Thanh Lợi) 




    Có thể nói miền Tây Nam Bộ là nơi hội tụ của những kênh rạch, sông ngòi. Gắn bó với cảnh sông nước ấy chính là những chiếc ghe, chiếc xuồng đã trở thành một hình ảnh không thể thiếu trong đời sống của người dân nơi đây. Trải qua hàng bao thế kỷ, cái hình ảnh thân thương ấy không bị mất đi mà dường như ngày càng được tôn vinh và gìn giữ. Bởi đó chính là một nét đẹp văn hóa độc đáo mà nơi đây có được. 


    Ghe xuồng miền Tây Nam Bộ phát triển theo nhiều kiểu, đa dạng, phong phú. Từ những chiếc ghe, xuồng chèo chống, luồn lách qua các kênh rạch đủ cỡ, đủ hình dạng, đủ độ nông sâu cho đến những loại ghe thuyền cỡ lớn, vận tải nặng, chuyên chở được nhiều người. Ngày nay, việc di chuyển trên sông nước còn có ghe máy, xuồng máy chạy với vận tốc nhanh dùng song song với các loại ghe, xuồng cổ điển. Chính vì sự tiến bộ trong khoa học, kỹ thuật mà nghề đóng ghe cũng đã có sự thay đổi ít nhiều về hình dáng và kỹ thuật lắp ráp. Ở miền Tây Nam Bộ, người ta phân biệt hai loại ghe và xuồng rất khác biệt. 

    Xuồng có mấy loại: xuồng ba lá, xuồng máy, xuồng năm lá… Xuồng ba lá dài trung bình 4m, rộng 1,5m, có sức chở từ 4- 6 người, vừa gọn nhẹ, vừa kín đáo. Sở dĩ gọi là xuồng ba lá vì có 3 ván, một ván giữa và 2 ván hai bên hông, ở giữa có kê sạp nhưng thấp hơn ở đầu mũi và đầu lái để giữ thăng bằng. Xuồng 5 lá hình dáng không khác mấy loại ba lá, chỉ có khác là gồm 5 mảnh ván ghép lại nên mức độ tròng trành ít hơn và hai đầu xuồng có khác chút ít. Xuồng 5 lá chính là xuồng ba lá cải tiến. Xuồng máy có gắn động cơ để có vận tốc nhanh hơn. Xuồng có đôi be gió chắn trên hai bên mép xuồng và chạy suốt chiều dài thân xuồng. Xuồng máy có đầu lái giống hình thang vuông. 

    Ghe có nhiều loại: ghe tam bản, ghe bầu, ghe chài, ghe lườn… Ghe tam bản mui ngắn, có đến 9 mảnh ván ghép hoặc nhiều hơn. Ghe có đôi be gió giống như xuồng máy, boong ghe chiếm nửa chiều dài bụng ghe, nơi này để làm chỗ nghỉ ngơi, còn phần trước để chất hàng hóa. Ghe có bánh lái nằm dưới lườn sau đầu lái và có cần để điều khiển. Trước mũi ghe có vẽ con mắt mà theo dân gian, thì đây là biểu tượng để trừ ác thú hay thuồng luồng tiến công. Ngoài ra, còn có thêm loại ghe tam bản mui dài chiếm gần hết chiều dài của ghe. Loại này trông như một cái nhà di chuyển trên mặt nước. Ghe bầu là loại ghe lớn có trang trí đẹp, dùng cho gia đình giàu sang. Ghe lườn thon nhẹ, bụng nhỏ và dài, còn gọi là ghe độc mộc vì được làm từ một thân cây gỗ, đẽo gọt và khoét ở ruột để thành ghe. Ghe trông đơn giản, không cong ở hai đầu mũi và lái, trong thân ghe chẳng kê sạp như các loại ghe khác. Ghe chài gồm nhiều mảnh gỗ ghép lại, có hai tầng, bên trong thân ghe chia làm hai phần, phần đầu chứa hàng hóa, phần sau cho người đi ghe. Ghe chài còn có phần mui rời phía sau phòng lái dùng để tắm rửa, nấu cơm, dùng cho người đi buôn bán xa, lâu ngày và sống trên sông nước. 

    Bên cạnh các loại ghe vừa kể trên còn có nhiều loại phương tiện đi lại như tắc ráng, phà, chẹt, bè… Di chuyển nhanh, chở nhẹ thì có ghe lưới, chở hàng thì có ghe bè, ghe lồng, dùng chở cá thì có ghe cá, ghe rổi, dùng để bắt tôm cá thì có ghe cào tôm… 

    Nghề đi ghe, đi xuồng từ lâu trở nên quen thuộc với cư dân miền Tây Nam bộ, tồn tại song song với nghề làm ruộng, làm vườn. Hiện nay, tại một số địa phương ở miền Tây, việc đi lại bằng đường bộ vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại cho nên sông ngòi vẫn là thủy đạo quan trọng trong công tác vận tải, thương mại và đi lại. Hơn nữa, ghe xuồng cũng là phương tiện để truyền tải văn hóa dân gian đi khắp nơi. Chính hình ảnh những chiếc ghe, chiếc xuồng trên sông rạch gắn bó suốt đời với cư dân miền Tây Nam bộ, cho nên đã xuất hiện những điệu hò, câu hát như hò chèo ghe, hò mái dài, mái cụt, hò sông Hậu, hò Đồng Tháp… và đã tạo nên sắc thái văn hóa riêng của văn minh miệt vườn. 





    Ai ở xa về, Tết đến nếu về miền Tây Nam Bộ, dạo xuồng ghe một vòng quanh sông Tiền sang sông Hậu hẳn đều không thể quên được hình ảnh của các chợ nổi trên sông. Chợ nổi với bao sản vật của đồng quê, do bà con ta một nắng hai sương làm ra, đưa lên sông, mua bán tấp nập từ sáng đến chiều. 

    Tại chợ ngã ba Trà Ôn trên sông Hậu, một khúc sông rộng cả mấy trăm mét, bao năm nay mua bán bình thường như những tiệm hàng trên bờ sông. Hàng hóa chợ nổi cũng đủ lọai, từ ít tiền như trái cây, rau màu, cá đủ loại (cá nuôi, cá đồng, cá biển)…đến những món hàng giá hàng triệu đồng như đồ điện tử, hạt xoàn, vàng 24K, 18K cho các cặp thanh niên chuẩn bị cho ngày kết tóc trăm năm. 

    Chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) là một chợ nổi lâu đời, có nhiều mặt hàng, nhân dân các nơi buôn bán hàng ngày. Đây cũng là chợ nổi họp thường xuyên trong ngày đáp ứng đầy đủ nhất các loại hàng hóa cho bà con ta ở vùng sông nước mênh mông này. 

    Cảnh sống ghe xuồng cũng có nhiều ý vị. Từ các cụ già đã quen cảnh sống trên ghe, lúc buồn thì rủ bạn già xuống xuồng, nhậu vài ly cho ấm, với những bài ca vọng cổ đọng lại trên mặt nước. Lớp trẻ mới lớn lên nô đùa, học tập cũng trên ghe xuồng… Đẹp nhất là mỗi buổi chiều tà khi mặt trời xuống dần bên kia sông, các cô nữ sinh với quần áo dài thướt tha, chèo xuồng qua sông về nhà. Các cô đi qua chợ nổi không quên mua vài trái mận, chùm me chua ăn thử liền trên sông, rồi người ngồi xuồng, người chèo xuồng lướt trên lớp sóng nhẹ về nhà, vừa vui vẻ cùng bạn học trao đổi về bài vở ngày nay, ngày mai…Ghe xuồng miền Tây sông nước từ thuở xa xưa đã là người bạn tri âm, tri kỷ với con người nơi đây. 

    Xuồng được người dân Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang chia ra 3 loại: xuồng ba lá, xuồng năm lá, xuồng tam bản. Loại xuồng tam bản là loại lớn hơn chút đỉnh chở từ 15 đến 20 giạ lúa. Trước đây xuồng chỉ có một chèo, sau này để đi lại nhanh, người dân vùng sông nước này chế thêm một chiếc chèo nữa. Xuồng bơi là loại lớn hơn xuồng ba lá chút ít. Xuồng tam bản khác xuồng ba lá là đáy của xuồng tam bản cong còn xuồng ba lá đáy bằng, xuồng tam bản mũi tròn, nhiều mảnh ván be lại và có cong, lướt sóng, dễ chèo nhanh (thường được kết từ 5, 7, 9 lá ván đóng lại). Giá cả các lọai xuồng loại này, trước đây bà con ta vẫn thích đổi ra bao nhiêu giạ lúa; loại lớn trước nay là 150 giạ, loại vừa 100 giạ trở lên - mỗi giạ lúa khoảng 20kg. Nhưng được cái, bà con ta lấy trước … rồi túng thì mùa lúa tới trả… có sao đâu, không bao giờ ở chợ quê lại có kiểu “mất khả năng thanh toán” như các Ngân hàng thường lo. Do cùng quê, cùng xóm nên lấy trước về dùng, dăm ba bữa, nửa tháng trả tiền cũng khỏi hề chi. Bà con ta quen mua bán kiểu ấy từ xa xưa đến nay rồi. 

    Ngoài xuồng, ở các vùng sâu có nhiều kênh, mương nhỏ hơn, bà con ta lại di chuyển bằng “chẹt”. Chẹt có kích thước nhỏ gọn để di chuyển qua các mương nhỏ. Thường bề ngang mỗi chiếc từ 0,5m, có độ dài 2m – 2,5m. Loại ván gỗ dùng làm chẹt là loại rẻ tiền, thường là gỗ mù u có sẵn trong vườn mỗi nhà dân, giá bán chẹt chỉ trên dưới 1 triệu đồng. Cây chèo của chẹt thường bằng gỗ sao có độ chắc, bền và đẩy chẹt đi được nhanh hơn. 

    Tết về, ở miền Tây Nam Bộ dễ gặp hình ảnh của những chiếc xuồng, ghe chở đầy trái cây đi chợ Tết. Ghe xuồng ở vùng này chủ yếu do các trại ghe xuồng tại chỗ làm ra. Hiện trên địa bàn mỗi huyện còn 5 – 7 trại đóng ghe xuồng. Nhiều trại ghe có tiếng là tài sản gia truyền từ đời này sang đời khác của các dòng họ như trại ghe Năm Danh, Phước Thành, Năm Sên, Thanh Hải (Trà Ôn), Hòa Hiệp tại Cầu Mới, trại ghe ấp Thanh Vân và Thanh Khê ở xã Thanh Bình (Vũng Liêm), và các trại ghe ở Trà Cú, Cầu Kè, Cầu Ngang, Càng Long của tỉnh Trà Vinh. Mỗi trại đều có thị trường riêng của từng vùng, và khi con cái được kế thừa thì phải giữ được tiếng tăm của trại ghe. 

    Ghe, xuồng, phương tiện đi lại của người dân vùng sông nước Nam Bộ đã có từ rất lâu đời, dịp Tết về vẫn thấy đầy chất mộc mạc quê hương./. 


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Anh Kiệt @ 07:58 07/08/2011
    Số lượt xem: 1601
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    HÌNH ẢNH KỶ NIỆM

    VÀI THÔNG TIN VỀ NHÓM VỌC

    SỨC KHỎE LÀ VÀNG